Thứ hai, 06 Tháng 2 2012
 
 

Số người đang Online

Hiện có 9 khách Trực tuyến

Trình diễn ảnh

Tổng số người thăm site

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay72
mod_vvisit_counterHôm qua111
mod_vvisit_counterTuần này183
mod_vvisit_counterTuần qua733
mod_vvisit_counterTháng này659
mod_vvisit_counterTháng qua3647
mod_vvisit_counterTất cả48746

Online (20 minutes ago): 6
Your IP: 38.107.179.238
,
Now is: 2012-02-06 16:38

Đăng nhập



Ảnh Hoa hậu hoàn vũ 2009

Đếm thời gian

Mừng bạn đến với locdo.net
Bí ẩn về các vùng biển "nuốt" tàu thuyền, máy bay trên thế giới PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ năm, 02 Tháng 2 2012 12:38

am giác Bermuda là nơi mà điểm la bàn quay một cách ngẫu nhiên. Hơn nữa, tại khu vực này, các phi thuyền ghi lại độ sai lệch đáng kể của lực hấp dẫn trái đất. Lực hấp dẫn trong tam giác Bermuda mạnh hơn bất cứ nơi đâu trên thế giới, hình thành nên Hải lưu Gulf Stream và tạo nên sự chuyển động về phía Bắc châu Âu...

1. Tam giác quỷ Bermuda

Vùng "Tam giác quỷ Bermuda" có phạm vi gần 1 triệu km2. Tam giác quỷ kéo dài từ Floria tới những hòn đảo Bermuda, sau đó tới Puerto Rico và quay trở về Floria theo đường Bahamas. Những tin tức về sự biến mất đầy bí ẩn của nhiều máy bay và tàu bè tại khu vực trên xuất hiện vào cuối những năm 1940.

Một nhóm gồm 5 người phụ trách ném bom từ trên máy bay đã không thể quay trở về đất liền vào ngày 5/12/1945. Những phi công chỉ có thời gian để thông báo rằng, họ đang bước vào "làn nước trắng". Một chiếc máy bay sau đó hạ cánh trên mặt nước, được lái tới để cứu giúp những người hoạn nạn trên, song chiếc máy bay này cũng đã biến mất.

Trong 50 năm, có gần 50 chiếc tàu thủy lẫn máy bay đã biến mất tại vùng tam giác này. Tuy nhiên, vào giữa những năm 1980, hình như tam giác này mất đi "độ mạnh của nó".

Có rất nhiều học thuyết lý giải vấn đề trên. Pseudoscientific (thuyết Ngụy khoa học là thuyết khoa học luôn có đặc tính có thể bị bác bỏ), Paranormal (thuyết huyền thoại), và Ufological (thuyết phản logic)- đã được phân tích bằng sự cố gắng nhằm tìm ra những hiện tượng bí ẩn.

Lý thuyết đáng tin cậy nhất được nêu ra bởi nhà khoa học Joseph Monaghan ở Đại học Monash, Australia. Vào năm 2003, nhà khoa học đã viết một bài báo trên "Tạp chí Vật lý" với tiêu đề "Bọt khí mêtan có thể làm chìm tàu?". Nhà nghiên cứu đã miêu tả quá trình thí nghiệm của mình, và ông đã chứng minh được rằng, rất có thể bong bóng khí mêtan làm chìm tàu. Lý thuyết của ông được nhiều nhà khoa học khác ủng hộ.

Theo Monaghan, những bọt nước khổng lồ có thể được hình thành bởi các chất lắng đọng bên dưới lòng biển, có chứa khí mêtan ở thể rắn, đây được hiểu là khí hydrat. Khí này không mùi, được tìm thấy trong các vũng lầy và ở các mỏ.

Khi các chất lắng đọng được nâng lên từ dưới lòng biển, thì chúng giống như những tảng băng có thể tan ra thành thể khí, tạo thành những bọt nước trên bề mặt. Khí này khi tập trung trên bề mặt đại dương, có thể gây ra các sự cố khi tương tác với các thiết bị điện tử trên máy bay và tàu. Những con tàu có thể bị chìm ở những nơi như vậy do có sự giảm đột ngột của cường độ nước.

Hiện tượng Bermuda khác được gọi là Flying Dutchman (Người Hà Lan biến mất)- sự biến mất không thể giải thích được của các thủy thủ trên tàu. Rất có khả năng các vụ tai nạn như vậy là do hạ âm (hạ âm là âm thanh ở tần số thấp hơn 20Hz hoặc chu kỳ mỗi giây, giới hạn bình thường của người nghe).

Một số nhà khoa học tin rằng, hạ âm được hình thành bởi các bọt khí khi mà chúng tăng lên trên bề mặt. Các rung động hạ âm gây ra mức cộng hưởng rất nguy hiểm cho tim và các mạch máu. Rất có thể các thủy thủ đã bị chi phối vì cảm giác căng thẳng và sợ hãi ấy. Trong hoảng loạn, họ nhảy xuống biển với hy vọng có thể thoát khỏi cái cảm giác kỳ lạ này.

Tuy nhiên, trên thế giới không có một lý thuyết nào có thể giải thích được lý do tại sao Tam giác Bermuda lại ngừng phá hủy những con tàu và máy bay vào giữa những năm 80. Lawrence David Kusche - tác giả cuốn "Bí mật về tam giác Bermuda đã được bật mí" - đã nói rằng, cuối cùng thì không còn bất cứ bí ẩn nào nữa. Theo Kusche, bí mật này chưa hề tồn tại, nó đơn giản chỉ là do loài người tự bịa ra mà thôi.

Kusche tiếp cận vấn đề một cách rất nghiêm túc. Ông tiến hành nghiên cứu các tập tin của các công ty bảo hiểm, những bản báo cáo điều tra của cảnh sát biển… Tuy nhiên, nơi bí ẩn nhất trong thế giới đại dương chính là Tam giác quỷ Bermuda, và điều đó đã được chứng minh. Đây là một trong hai khu vực bí ẩn nhất trên trái đất (khu vực thứ 2 được biết tới là Devil's Sea - Biển Quỷ).

Tam giác Bermuda là nơi mà điểm la bàn quay một cách ngẫu nhiên. Hơn nữa, tại khu vực này, các phi thuyền ghi lại độ sai lệch đáng kể của lực hấp dẫn trái đất. Lực hấp dẫn trong tam giác Bermuda mạnh hơn bất cứ nơi đâu trên thế giới, hình thành nên Hải lưu Gulf Stream và tạo nên sự chuyển động về phía Bắc châu Âu.

Trong những năm gần đây, các thiết bị của máy bay và tàu thủy ngày càng trở nên tiên tiến với công nghệ hiện đại hơn, vì thế không còn xảy ra thảm họa trong vùng biển này.


2. Biển Sargasso

Nhiều người đã so sánh biển Sargasso với Tam giác Bermuda. Khu tam giác Bermuda thuộc phía Tây của biển Sargasso. Hơn nữa, nhiều người đang cố gắng tìm ra lời giải về những bí ẩn của tam giác nằm trong biển Sargasso, ở trung tâm Đại Tây Dương. Tại đây, các dòng đại dương di chuyển theo chiều kim đồng hồ.

Richard Sylvester-thuộc Đại học Tây Australia-cho rằng, các xoáy nước khổng lồ ở biển Sargasso là một máy ly tâm, sẽ tạo ra các xoáy nước nhỏ hơn khi tới vùng Tam giác Bermuda. Trong không khí, các xoáy nước này gây ra các cơn lốc xoáy nhỏ. Các cơn bão tiếp tục làm nước di chuyển thành hình xoắn ốc, từ đó xuất hiện các xoáy nước khổng lồ, và do đó dễ làm cho máy bay có những va chạm nhỏ trong đại dương.

3. Biển quỷ

Đây là khu vực nằm ở Thái Bình Dương quanh đảo Miyake, cách Tokyo, Nhật Bản khoảng 100km về phía Nam. Những cơn bão có thể xuất hiện bất ngờ, và biến mất giống như khi chúng xuất hiện bất thần vậy. Cá voi, cá heo và cả loài chim không thể sống trong khu vực này.

Trong 5 năm đầu thập niên 1950, có tới 9 con tàu đã biến mất trong khu vực này. Nổi tiếng nhất về những tai nạn như trên là sự biến mất của Kaiyo Maru số 5 - một con tàu nghiên cứu của Nhật Bản.

Đây là khu vực địa chấn hoạt động rất mạnh. Đáy biển chuyển động không ngừng, những đảo núi lửa thường xuyên xuất hiện và sau đó biến mất. Khu vực này còn được biết tới với độ xoáy nước có cường độ cao.

4. Mũi Hảo Vọng

Khu vực ngoài bờ biển Nam Phi này còn được gọi là Mũi Bão (Storms). Trong nhiều thế kỷ qua, rất nhiều tàu bị đắm tại nơi đây. Hầu hết các con tàu gặp tai nạn ở đây là do thời tiết xấu.

Mũi Hảo Vọng cũng nổi tiếng với những con sóng gây chết người. Sóng rất lớn, có chiều cao lên tới 30 m. Chúng được hình thành từ hai con sóng kết hợp lại thành một. Những cơn sóng khổng lồ như vậy có thể tạo ra những khoảng sâu rất lớn phía trước chúng, độ sâu tương ứng với chiều cao của sóng.

Trong thế giới đại dương, nhiều nơi khác cũng tồn tại những con sóng như vậy. Tuy nhiên, đến thời điểm này, các khu vực gần Mũi Hảo Vọng là đặc biệt nguy hiểm.

5. Biển phía Đông Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư

Khu vực này được đồn đại về những tia sáng khổng lồ và những vòng xoáy trên mặt nước. Nhà nghiên cứu người Đức- Kurt Kahle tin rằng, sự xuất hiện những vòng tròn sáng lóe trong đại dương là nguyên nhân gây ra những trận động đất dưới nước.

Mới đây, lý thuyết này đã bị chỉ trích bởi nó không hề giải thích một cách sâu sắc và đầy đủ về sự chuyển đổi của các vòng tròn sáng. Khoa học hiện đại đã không thể giải thích chính xác các hình tròn như trên.

6. Xoáy nước Maelstrom

Thủy thủ biết tới rất nhiều câu chuyện đáng sợ từ các hiện tượng xoáy nước lạ lùng này. Cơn xoáy này xảy ra hai lần trong một ngày, ở phần phía Tây của biển Na Uy, ngoài khơi bờ biển Tây Bắc của đất nước Bắc Âu này. Xoáy nước chứa một lượng nước khá lớn, khối nước này sẽ cuộn tròn lại và có độ xoáy rất mạnh. Tại trung tâm của dòng xoáy mạnh, mặt nước khoang thấp hơn hàng chục mét so với mặt nước biển. Độ mạnh các xoáy nước gấp mười lần độ mạnh các dòng nước thông thường.

Thật kỳ lạ, cứ 3- 4 tháng, xoáy nước chỉ thay đổi sang hướng đối diện có một lần. Xoáy nước Maelstrom có thể xuất hiện ở các vùng khác trên thế giới, bao gồm cả Tam giác Bermuda. Mọi người thường tin rằng, xoáy nước Maelstrom thường xoáy tròn ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu, và xoáy theo chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu. Quy luật này được giải thích theo vòng quay của trái đất

theo Pradva

Cập nhật ngày Thứ năm, 02 Tháng 2 2012 12:41
 
Big Bang - Quá trình phát triển của vũ trụ và những điều chưa biết PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ ba, 31 Tháng 1 2012 19:32
Trong nhiều thế kỷ, con người đã quan sát những vì sao và tự hỏi rằng làm thế nào, và bằng cách nào vũ trụ đã phát triển được như ngày hôm nay. Câu hỏi này đã trở thành một đề tài tranh luận dường như bất tận. Từ tôn giáo đến khoa học, vấn đề này đã đồng hành cùng con người trong suốt lịch sử nhân loại. Rất nhiều nhà khoa học vĩ đại cũng đã bị cuốn vào nó, có thể kể ra rất nhiều cái tên như Edwin Hubble, Albert Einstein hay Stephen Hawking... Và một trong những mô hình được chấp nhận rộng rãi nhất chính là học thuyết Big Bang. Bài viết dưới đây hi vọng sẽ cung cấp cho bạn đọc một vài thông tin về học thuyết nổi tiếng này.

Mặc dù cực kỳ phổ biến, nhưng cũng rất nhiều người có sự ngộ nhận về học thuyết này. Một trong những hiểu biết sai lầm hay gặp nhất chính là việc cho rằng Big Bang mô tả nguồn gốc của vũ trụ. Big Bang, thực chất, để giải thích việc làm cách nào vũ trụ có thể phát triển từ một trạng thái rất nhỏ và dày đặc để được như ngày hôm nay - không phải để tìm hiểu xem điều gì đã tạo nên vũ trụ ngày hôm nay, hay cái gì đã tồn tại trước sự hình thành của vũ trụ, cũng như những điều nằm bên ngoài vũ trụ.

Một quan niệm sai lầm khác chính là việc cho rằng Big Bang là một vụ nổ. Big Bang, thực chất dùng để mô tả sự giãn nở của vũ trụ. Một số phiên bản khác cho rằng sự giãn nở này là cực kỳ nhanh (có thể còn nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng), nhưng dù sao đi nữa, đó cũng không phải là một vụ nổ theo đúng nghĩa.

Khái quát hóa thuyết Big Bang là một thách thức thực sự. Nó liên quan đến rất nhiều khái niệm mâu thuẫn với cái cách mà chúng ta nhận thức thế giới. Càng đi sâu tìm hiểu về những thời điểm sơ khai nhất trong sự hình thành vũ trụ, bạn càng thấy chúng trở nên mâu thuẫn với những định luật khoa học cơ bản nhất. Cuối cùng, bạn chợt nhận ra rằng mình không thể đưa ra một định luật khoa học nào để lý giải chính xác điều gì đã xảy ra, vì chính các định luật khoa học đã tự phủ nhận nó.
Một vài nét cơ bản về thuyết Big Bang
Học thuyết Big Bang mô tả về quá trình giãn nở của vũ trụ từ thời điểm nó bắt đầu hình thành cho đến nay. Đó là một trong số những học thuyết cơ bản nhất về sự hình thành và phát triển của vũ trụ. Đồng thời, nó cũng đưa ra một số dự đoán về tương lai của vũ trụ, và rất nhiều trong số những phán đoán này đã được chứng minh là hoàn toàn có cơ sở. Chính những điều này đã làm cho Big Bang được chấp nhận một cách rộng rãi.

Điều đầu tiên cần đề cập đến khi nói về thuyết Big Bang chính là khái niệm về một vụ nổ. Hoàn toàn sai lầm. Nhiều người nghĩ rằng, Big Bang mô tả thời điểm khi tất cả các thể loại vật chất và năng lượng của vũ trụ được tập trung ở một điểm rất rất nhỏ, rồi sau đó, BANG, vật chất được bắn đi khắp nơi - và kết quả là vũ trụ được sinh ra. Trên thực tế, Big Bang cho thấy sự giãn nở của vũ trụ, có nghĩa là mọi thứ tồn tại trong vũ trụ được dàn trải đều ra theo các chiều không gian. Ví dụ minh họa dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về sự khác biệt giữa 2 khái niệm này.

Ngày nay, khi nhìn vào bầu trời đêm, chúng ta có thể thấy thiên hà được phân chia bởi một khoảng không rộng lớn. Ở những khoảnh khắc sơ khai khi vũ trụ hình thành, khoảng không đó, bao gồm tất cả những vật chất và năng lượng của vũ trụ được nén vào 1 điểm duy nhất - 1 điểm có khối lượng và mật độ lên đến ngưỡng vô cùng - và các nhà vũ trụ học gọi nó là điểm Singularity.

Vậy câu hỏi đặt ra là, vũ trụ sẽ như thế nào vào thời điểm bắt đầu xảy ra Big Bang. Rất dày đặc và rất nóng, nhưng sau đó, do sự giãn nở rất nhanh, nên mật độ và nhiệt độ dần hạ xuống. Cùng với sự giãn nở này, vật chất bắt đầu hình thành, các bức xạ mất dần năng lượng. Và chỉ trong một vài giây, vũ trụ được hình thành, trải dài đến vô tận chỉ từ một điểm đen duy nhất.

Đồng thời với sự giãn nở này, 4 lực cơ bản của vũ trụ cũng đã hình thành:
Lực điện từ
Lực hạt nhân mạnh
Lực hạt nhân yếu
Lực hấp dẫn
Vào thời điểm bắt đầu xảy ra Big Bang, tất cả các lực này là một phần của một lực duy nhất - và làm cách nào các lực này có thể tồn tại cùng nhau trong một thể thống nhất, chúng tương tác với nhau ra sao, có liên quan đến nhau như thế nào - đó vẫn là một bí ẩn lớn.
Thuyết Big Bang đã ra đời như thế nào?
Thuyết Big Bang là kết quả của hai cách tiếp cận khác nhau trong việc nghiên cứu vũ trụ: thiên văn học và vũ trụ học. Các nhà thiên văn học sử dụng nhiều công cụ khác nhau để quan sát các vì sao, trong khi đó các nhà vũ trụ học nghiên cứu các tính chất vật lý thiên thể của vũ trụ.

Ánh sáng cũng mang tính chất sóng, và các nhà thiên văn học nhận thấy có một số ngôi sao có bước sóng thiên về phía quang phổ hồng ngoại nhiều hơn dự kiến. Từ đó, họ đưa ra giả thuyết rằng các ngôi sao này đang di chuyển xa dần khỏi Trái đất. Khi những ngôi sao này di chuyển, các bước sóng mà chúng phát ra sẽ dần bị "căng" ra - kết quả là bước sóng này bị kéo dài, và trở thành một quang phổ hồng ngoại. Các nhà vũ trụ học gọi hiện tượng này là Redshift - tạm dịch: Dịch chuyển đỏ. Bước sóng càng hướng về phía hồng ngoại, ngôi sao đó càng di chuyển nhanh hơn.

Vào năm 1920, nhà thiên văn học Edwin Hubble đã phát hiện ra một điều rất lý thú: Vận tốc xuất hiện của một ngôi sao tỷ lệ thuận với khoảng cách của nó từ Trái đất. Nghĩa là, một ngôi sao ở càng xa Trái đất thì sẽ di chuyển càng nhanh ra xa chúng ta. Với giả thuyết này, một lần nữa Hubble khẳng định rằng vũ trụ đang tiếp tục giãn nở.

Phát hiện của Hubble đưa đến một cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn đến ngày nay: Chính xác thì mối quan hệ giữa vận tốc và khoảng cách của một ngôi sao là gì? Các nhà khoa học gọi đây là hằng số Hubble, và Hubble đưa ra giả thuyết rằng nó vào khoảng 464 km/s/Mpc. Mpc - viết tắt của Megaparsec là một đơn vị khoảng cách tương ứng với 3.08 x 1022m.
Nhưng con số này là không chính xác, vì tại thời điểm của Hubble, các dụng cụ thiên văn là không đủ độ nhậy và độ chính xác để đo khoảng cách giữa Trái đất và các vì sao. Ngày nay, khi các dụng cụ đo đạc và quan sát đã trở nên tiến bộ hơn, các nhà khoa học đã thay đổi hằng số Hubble, tuy nhiên, chính xác nó là bao nhiêu - đây vẫn là một cuộc tranh luận đang tiếp diễn.
Big Bang- từ khoảnh khắc đầu tiên.
Do những giới hạn của khoa học, chúng ta không thể đưa ra bất kỳ dự đoán nào về thời điểm vũ trụ ra đời. Thay vào đó, ta có thể nghiên cứu những thời điểm ngay sau khoảnh khắc trọng đại này. Và thời điểm sớm nhất được đề cấp đến - đó là vào khoảng thời gian t= 1 x 10^ -43 s.
Trong những thời điểm đầu đời, vũ trụ là quá nhỏ bé, và những định luật vật lý cổ điển trở nên lệch pha khi áp dụng vào đây. Và vật lý lượng tử đã thay thế vật lý cổ điển trong cuộc chơi này, vì nó có thể được ứng dụng trên các thành phần hạ nguyên tử.

Tại thời điểm t= 1 x 10^-43s: Vũ trụ là vô cùng nhỏ bé, dày đặc và có nhiệt độ rất cao. Các nhà khoa học ước tính, lúc này vũ trụ chỉ kéo dài trên 1 khoảng 1 x 10^-33 cm - so với không gian trải dài hàng tỷ năm ánh sáng như ngày nay. Trong giai đoạn này, các nhà khoa học tin rằng, vật chất và năng lượng là không thể tách rời. Bốn lực cơ bản của vũ trụ trở thành một lực thống nhất. Và nhiệt độ của vũ trụ lúc này ước tính vào khoảng 10^32 độ C.
Khi vũ trụ mở rộng, nhiệt độ này dần hạ xuống. Vào khoảng 1 x 10^-35s, vật chất và năng lượng bắt đầu tách rời. Các nhà khoa học gọi đây là thời điểm Baryogenesis - thời điểm mà ta có thể quan sát được vật chất. Tại thời điểm này, vũ trụ được lấp đầy bởi một lượng gần như tương đương của vật chất và phản vật chất. Tuy nhiên, vật chất vẫn chiếm ưu thế về số lượng, nên khi hạt và phản hạt bắt đầu triệt tiêu nhau, một số hạt vật chất sẽ may mắn sống sót. Và những thành phần này sẽ nhanh chóng kết hợp với nhau để tạo thành vật chất trong vũ trụ.

Tại thời điểm t = 1 x 10^-11s, các nhà khoa học đã có thể tái tạo lại vũ trụ trong phòng thí nghiệm với máy gia tốc hạt. Và điều này đồng nghĩa với việc ta có thể trực tiếp quan sát vũ trụ, với những hình ảnh và số liệu cụ thể, chứ không còn thông qua phán đoán như ở những thời điểm trước nữa. Vào lúc này, lực thống nhất đã bị phá vỡ. Lực điện từ và lực hạt nhân yếu bị tách ra trước tiên. Photon chiếm ưu thế hơn so với vật chất, nhưng vũ trụ lúc này vẫn là cực kỳ dày đặc, và do đó khái niệm "ánh sáng" vẫn còn rất xa xôi.

Tiếp theo đó là giai đoạn tiêu chuẩn của ngành vũ trụ học: thời điểm 0.01s kể từ sau Big Bang. Vũ trụ tiếp tục mở rộng, nhiệt độ vẫn tiếp tục hạ xuống. Các hạt hạ nguyên tử bắt đầu liên kết với nhau, tạo ra neutron và proton. Khi thời gian 1s đã bắt đầu trôi qua, những hạt nhân của các nguyên tố nhẹ bắt đầu hình thành: hydrogen, heli, lithium. Tuy nhiên, lúc này vũ trụ vẫn là quá nóng để các electron có thể tham gia cuộc chơi và hình thành nên các nguyên tử ổn định.
....Và 13 tỷ năm sau.
Một giây đầu tiên dường như là một câu chuyện rất dài, nhưng đó mới chỉ là sự khởi đầu. Sau 100 giây, nhiệt độ của vũ trụ được làm mát xuống chỉ còn.... 1 tỷ độ C. Các hạt hạ nguyên tử tiếp tục kết hợp với nhau. Căn cứ theo khối lượng, sự phân bố của các nguyên tố là vào khoảng 75% hạt nhân hydrogen và 24% hạt nhân heli. 1% còn lại được phân bố cho các hạt nhẹ hơn, ví dụ như lithium.

Nhiệt độ lúc này vẫn là quá cao để electron có thể vào cuộc, do đó, chúng chọn cách va chạm với với các positron để tạo ra nhiều photon hơn. Nhưng mật độ của vũ trụ lúc này vẫn là quá dày đặc, và ánh sáng vẫn chưa xuất hiện.
Quá trình mở rộng và làm mát vũ trụ vẫn tiếp tục diễn ra. Sau khoảng 56.000 năm, nhiệt độ vũ trụ đã hạ xuống chỉ còn khoảng 9000 độ C, và tại thời điểm này, mật độ vật chất của vũ trụ đã bắt đầu phù hợp với mật độ bức xạ. Trải qua khoảng 300.000 năm nữa, nhiệt độ chỉ còn là 3000 độ C, và cuối cùng, proton và electron đã có thể kết hợp với nhau để tạo ra các nguyên tử Hydro đầu tiên.

Cũng tại thời điểm này, 380.000 năm sau Big Bang, ánh sáng đã xuất hiện. Bức xạ nền vi sóng vũ trụ đã hình thành, và với việc nghiên cứu những bức xạ này, giờ đây con người đã có thể phác thảo lại hình ảnh vũ trụ từ thuở sơ khai ban đầu.
Cho đến khoảng 100 triệu năm sau hoặc lâu hơn thế, vũ trụ vẫn tiếp tục giãn nở và được làm mát. Một vài biến động nhỏ về lực hấp dẫn sẽ khiến cho các phần tử vật chất co cụm lại với nhau, chúng trở nên dày đặc hơn, và nóng hơn, và sau khoảng 1 đến 2 trăm năm, các ngôi sao ra đời.
Khi một ngôi sao nào đó già cỗi đi và phát nổ, những mảnh vật chất sẽ bắn đi khắp vũ trụ, và tạo nên những nguyên tố nặng mà ta có thể tìm thấy trong tự nhiên (những nguyên tố có khối lượng trên Uranium). Những dải thiên hà bắt đầu hình thành nên các cụm riêng, và dải thiên hà của chúng ta được hình thành từ cách đây khoảng 4.6 tỷ năm.
Thuyết Big Bang cho ta biết điều gì?
Một số nhà vũ trụ học sử dụng thuyết Big Bang để ước tính tuổi của vũ trụ. Nhưng do những kỹ thuật đo lường khác nhau, nên sai số của phép đo này là rất lớn, và trên thực tế, sai số này có thể lên đến hàng tỷ năm.
Việc phát hiện ra vũ trụ đang mở rộng sẽ dẫn đến nhiều câu hỏi khác. Nó có mở rộng ra mãi không? Nó có dừng lại không? Liệu sẽ có sự đảo ngược không? Căn cứ theo thuyết tương đối tổng quát, tất cả điều này đều phụ thuộc vào việc lượng vật chất trong vũ trụ là bao nhiêu.

Ở đây, lực hấp dẫn đóng vai trò quyết định. Cụ thể, nếu lượng vật chất trong vũ trụ là đủ lớn, lực hấp dẫn sẽ có đủ khả năng làm chậm lại quá trình giãn nở của vũ trụ, và có thể làm vũ trụ thu nhỏ lại. Và nếu chuyện này thực sự xảy ra, các nhà vũ trụ học sẽ phác thảo nên hình ảnh 1 vũ trụ khép kín với một độ cong dương.
Nhưng nếu lực hấp dẫn là không đủ mạnh để đảo ngược quá trình mở rộng của vũ trụ, nó sẽ giãn ra mãi mãi. Và khi đó, vũ trụ hoặc sẽ là không có đường cong, hoặc là nó sẽ mang một độ cong âm.

Theo thuyết Big Bang, không có gì gọi là trung tâm, hay cái rốn của vũ trụ. Mỗi điểm trong vũ trụ đều giống như điểm khác, không có điểm nào là trung tâm. Quan điểm này luôn là điều cốt lõi trong thuyết Big Bang - khi thuyết này cho rằng vũ trụ đang mở rộng một cách đồng nhất và đẳng hướng. Và thực tế đã cho thấy vật chất trong vũ trụ có vẻ như đang chuyển động theo đúng những gì mà thuyết Big Bang đề ra.
Những kẽ hở trong thuyết Big Bang
Kể từ sau khi ra đời, thuyết Big Bang đã vấp phải rất nhiều lời chỉ trích và hoài nghi. Và dưới đây là những kẽ hở phổ biến nhất của học thuyết này:
1. Đi ngược lại định luật thứ nhất của nhiệt động học. Định luật này phát biểu rằng, vật chất, cũng như năng lượng, không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi. Phe phản đối cho rằng, thuyết Big Bang đã đề ra giả thuyết vũ trụ được hình thành từ con số 0. Tuy nhiên, những người ủng hộ lại cho rằng lời chỉ trích này là không có căn cứ, vì 2 lý do. Thứ nhất, Big Bang không giải thích về việc vũ trụ được tạo ra như thế nào, mà chỉ nói về sự phát triển của vũ trụ. Thứ hai, khi các định luật khoa học cơ bản nhất lần lượt đổ vỡ dưới sự hình thành và phát triển của vũ trụ, không có gì chắc chắn rằng định luật bảo toàn vật chất và năng lượng này vẫn có thể đúng 100%.

2. Đi ngược lại định luật Entropy. Định luật này phát biểu rằng theo thời gian, vật chất sẽ càng trở nên hỗn độn hơn. Nhưng nếu nhìn lại, bạn có thể thấy, tại thời điểm ban đầu, vũ trụ là hoàn toàn đồng nhất và đẳng hướng, và cho đến nay, vũ trụ là một tập hợp của vô vàn những vì sao, những thiên hà.... và điều này là một dấu hiệu cho thấy thuyết Big Bang vẫn tuân thủ định luật Entropy.

3. Sự mở rộng quá nhanh của vũ trụ trong giây đầu tiên đã phá vỡ giới hạn vận tốc ánh sáng. Những người ủng hộ có nhiều quan điểm khác nhau để bác bỏ ý kiến này. Thứ nhất, vào thời điểm đầu tiên của Big Bang, thuyết tương đối hoàn toàn không được áp dụng, và do đó, chẳng có vấn đề gì với việc di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Thứ hai, không gian hoàn toàn nằm ngoài những tương tác trọng lực, do đó không gian tự bản thân nó hoàn toàn có thể mở rộng nhanh hơn vận tốc ánh sáng.
Trên đây chỉ là một vài sơ hở hay được đưa ra tranh luận nhất của thuyết Big Bang. Nhưng vẫn còn rất nhiều câu hỏi khác mà thuyết Big Bang vẫn chưa giải thích được. Điều gì đã xảy ra trước Big Bang? Liệu có gì khác tồn tại ngoài vũ trụ hay không? Và hình hài của vũ trụ là như thế nào? Hi vọng trong một ngày không xa, một học thuyết khác, hoàn chỉnh hơn sẽ có thể giải đáp được những câu hỏi đó.
 
Bước tiếp cận mới của Không quân Việt Nam PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ hai, 09 Tháng 1 2012 20:37

Có khả năng cất hạ cánh đường băng ngắn, trang thiết bị điện tử hiện đại, DHC-6 không đơn thuần là một thủy phi cơ đa năng mà còn là bước tiếp cận hoàn toàn mới của quân đội Việt Nam.

DHC-6 là một phát triển nâng cấp của máy bay DHC-3 Otter, máy bay thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 20/5/1965. Các biến thể sản xuất đầu tiên  series 100-200 sử dụng 2 động cơ PT6A-20 công suất 550 mã lực/động cơ, biến thể series 200 cải thiện khoang  hành lý lớn hơn để ngăn hành lý phía sau.
Ban đầu, thủy phi cơ này chủ yếu phục vụ với vai trò vận tải hành khách hoặc thực hiện các hoạt động nhảy dù phi quân sự.
Biến thể Series 300 sử dụng động cơ PT6A-27 cải tiến, công suất 680 mã lực/chiếc, cải thiện khả năng cất hạ cánh ngắn. Series 300 là biến thể thành công nhất của gia đình DHC-6, quốc gia sử dụng chủ yếu là Anh và Australia.

DHC-6 là thủy phi cơ thành công nhất của công nghiệp hàng không Canada.

DHC-6 Twin Otter  từ series 100-300 một mẫu máy bay thành công nếu xét về số lượng sản xuất và xuất khẩu.

Tổng cộng có hơn 800 chiếc đã được chế tạo, trung bình mỗi năm Viking Air sản xuất được 17,3 chiếc, một con số khá ấn tượng đối với một tập đoàn không mấy tên tuổi trong làng công nghiệp hàng không thế giới


Máy bay  đạt được những thành công nhất định, trong đó điểm nổi bật nhất là khả năng hạ cánh trên đường băng ngắn nhất thế giới (chỉ khoảng 396 m). DHC-6 Twin Otter  tỏ cực kỳ hiệu quả khi hoạt động trên các đường băng cực ngắn trên các đảo, những đường băng thường xuyên bị thủy triều đe dọa.


DHC-6 Twin Otter được xuất khẩu cho hơn 40 quốc gia, phục vụ cả trong lĩnh vực dân sự và quân sự, thủy phi cơ này là sự lựa chọn hàng đầu cho các quốc gia ven biển, các quốc gia có nhiều đảo và quần đảo.


Năm 2008, tập đoàn Viking Air công biến thể hiện đại hóa series 400, một nỗ lực nhằm tiếp tục duy trì  hình ảnh của thương hiệu này.


Điểm khác biệt lớn đầu tiên đó là việc trang bị toàn bộ hệ thống điện tử hàng không công nghệ số cho máy bay, ngoài ra, tập đoàn Viking Air  còn mở rộng sự đa năng bằng cách trang bị thêm các công nghệ phục vụ cho mục đích trinh sát và tuần tra hàng hải quân sự ngoài chức năng chính là vận tải hành khách và hàng hóa.


Tính năng kỹ thuật

DHC-6  series 400 là một loại thủy phi cơ lưỡng dụng linh hoạt cao, có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng lúc. Tuần tra đảm bảo an ninh hàng hải, theo dõi thời tiết, chụp ảnh hiện trường, đánh dấu vị trí trên biển, cứu hộ cứu nạn trên biển, vận tải hàng hóa và hành khách.


DCH-6 có khả năng cất hạ cánh trên đường băng rất ngắn, có thể cất hạ cánh trên biển và trên đất liền. Khi hạ cánh trên đất liền, máy bay sử dụng các bánh xe gắn phía dưới bộ phận hạ cánh trên biển.

Thủy phi cơ DHC-6 đang cất cánh từ mặt nước. Thông số cơ bản: Dài 15,77 mét, sải cánh 19,81 mét, cao 5,94 mét, trọng lượng rỗng 3365 kg, trọng lượng cất cánh tối đa 5670kg, tải trọng hàng hóa 1135kg.

DCH-6 được trang bị tích hợp radar thời tiết hiển thị đa màu sắc, radar đo độ cao, máy ảnh tích hợp, hệ thống định vị toàn cầu GPS, hệ thống điều khiển và liên lạc vô tuyến hàng hải Loran-C  và hệ thống thả phao đánh dấu vị trí trên biển, tất cả các trang thiết bị điện tử đều được phát triển trên nền tảng công nghệ số. Ngoài thiết bị điện tử tích hợp sẵn, thủy phi cơ DCH-6 có thể mang theo các thiết bị phụ trợ bên  ngoài, hoặc bên trong khoang theo yêu cầu của phía khách hàng.

Thủy phi cơ DCH-6 series 400 được trang bị 2 động cơ phản lực cánh quạt PT-6A35 hiệu suất cao, tốc độ trung bình khoảng 300km/giờ. Hệ thống điều áp của máy bay được thiết kế với khả năng hoạt động tại độ cao 4,2km mà không cần oxy hỗ trợ.  Máy bay có khả năng hoạt động tại độ cao tối đa là 8,5 km, tầm hoạt động 1248km với thùng nhiên liệu phụ trợ, 896km với nhiên liệu tiêu chuẩn mang trong thân. DCH-6 có khả năng hoạt động liên tục trong 6 tiếng đồng hồ.


Phi hành đoàn gồm có 2 người, khoang máy bay có thể chứa 18-20 hành khách hoặc hàng hóa tùy theo yêu cầu nhiệm vụ.


Bước đầu tiếp cận công nghệ điện tử phương Tây

Đoàn phi công hải quân đầu tiên của Việt Nam đã được gửi sang Canada để huấn luyện sử dụng thủy phi cơ lưỡng dụng đa năng DHC-6 Twin Otter series 400. Như vậy, Việt Nam đã tiến gần hơn tới việc sở hữu chiếc thủy phi cơ đa năng này, quan trọng hơn cả sự kiện này mở ra một hướng tiếp cận mới trong việc đa dạng hóa trang thiết bị vũ khí.

DHC-6 được trang bị các công nghệ điện tử hàng không rất hiện đại, một lĩnh vực hoàn toàn mới đối với quân đội Việt Nam

Ngoại trừ một số máy bay trực thăng do quân đội Mỹ để lại trong chiến tranh Việt Nam cùng một số trực thăng dân dụng mua của Eurocopter.  Hợp đồng mua 6 thủy phi cơ đa năng DHC-6 Twin Otter series 400 là hợp đồng mua máy bay tuần tra biển  phục vụ cho quân sự đầu tiên của Việt Nam với các nước phương Tây.

Việc sử dụng thủy phi cơ lưỡng dụng có nhiều điểm khác biệt so với các loại máy bay hạ cánh trên đường băng. Thủy phi cơ DHC-6  vừa có thể hạ cánh trên biển vừa có thể hạ cánh trên đường băng, điều này đòi hỏi công tác đào tạo phải hết sức bài bản.


Hơn nữa, đây là lần đầu tiên Việt Nam công khai mua mới và sử dụng loại máy bay phục vụ cho quân sự từ phương Tây, do đó việc gửi phi công sang nước bạn để huấn luyện là điều cần thiết phải làm. Công tác đào tạo không chỉ đơn giản là học lái máy bay mà còn cách vận hành các hệ thống liên quan theo công nghệ phương Tây, một lĩnh vực khá mới mẻ đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Với khả năng cất, hạ cánh trên đường băng cực ngắn, sự có mặt của DHC-6 mang lại khả năng tiếp tế hàng hóa, nhu yếu phẩm, trang thiết bị cho một số đảo của Việt Nam có sẵn đường băng khá ngắn mà không cần phải mở rộng hay nâng cấp đường băng, một công việc có thể gây sự hiểu nhầm với các nước xung quanh.


Nếu chỉ xét về khả năng cơ động, DHC-6 không bằng các thủy phi cơ cùng loại của Nga hay một số nước khác, điều làm nên sự khác biệt của DHC-6 ngoài khả năng cất hạ cánh cực ngắn, máy bay còn được trang bị công nghệ trinh sát hàng hải đường không kỹ thuật số tiên tiến, một lĩnh vực mà các thủy phi cơ của Nga không có được.

 

link: Tại đây

Cập nhật ngày Thứ hai, 09 Tháng 1 2012 20:45
 
Việt Nam chế tạo sơn hấp thụ sóng radar PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ hai, 12 Tháng 12 2011 10:08
Viện Hóa học-Vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) vừa nghiên cứu chế tạo thành công loại sơn hấp thụ sóng  radar để có thể ứng dụng vào các tàu chiến, máy bay...

Sơn hấp thụ sóng radar là loại vật liệu đặc biệt dùng để sơn phủ lên bề mặt các mục tiêu quân sự nhằm bảo vệ mục tiêu trước sự phát hiện, định vị của radar đối phương.

Quân đội nhiều nước rất chú trọng nghiên cứu sản xuất các loại sơn hấp thụ sóng radar mới thông qua thay đổi hệ chất kết dính; các chất độn dẫn điện, từ cũng như các tham số cấu trúc của màng... Sơn hấp thụ sóng radar là một trong những biện pháp quan trọng để ngụy trang, tăng tính sống còn cho vũ khí trang bị kỹ thuật.

Các nhà khoa học thuộc Viện Hóa học-Vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) vừa nghiên cứu chế tạo thành công loại sơn hấp thụ sóng radar có ký hiệu PD/RAP-MEH sử dụng để sơn phủ các loại vũ khí trang bị kỹ thuật nhằm giảm thiểu thiết diện phản xạ hiệu dụng, nâng cao khả năng ngụy trang của vũ khí trang bị kỹ thuật đối với các thiết bị trinh sát, phát hiện và điều khiển sử dụng bức xạ sóng radar trong dải băng X (từ 8 đến 12GHz).

 

Các máy bay của Việt Nam sẽ có khả năng chiến đấu cao hơn, nếu được phủ lớp sơn hấp thụ sóng radar.

Sơn PD/RAP-MEH được chế tạo từ loại vật liệu tổn hao tổ hợp điện từ tổng hợp trên cơ sở composit của polypyrol và bari ferit.

Sơn có màu đen. Một số thông số kỹ thuật chủ yếu của sơn PD/RAP-MEH gồm: Độ nhớt quy ước: 65; thời gian khô bề mặt: 2 giờ, thời gian khô cấp 1: 8 giờ; hàm lượng chất rắn 73,2%; độ cứng: 0,23; độ bền uốn: 2mm.

Khả năng hấp thụ sóng radar trong khoảng 8 đến 12GHz (ứng với độ dày màng sơn 1mm) lớn hơn 94%. Thời gian sống của sơn sau khi pha trộn từ 2,5 đến 3 giờ...

Nguyên liệu để sản xuất sơn hấp thụ sóng radar PD/RAP-MEH có thể chủ động trong nước, trong khi công nghệ chế tạo không quá phức tạp. Qua thực tế cho thấy, sơn có thể ứng dụng tốt trong một số lĩnh vực với giá thành rẻ hơn so với sản phẩm nhập ngoại, nên việc sản xuất thành công có ý nghĩa rất quan trọng, cần tiếp tục mở rộng.

Như vậy, trong một tương lai gần, các máy bay chiến đấu, tàu chiến...của quân đội ta sẽ sớm được ứng dụng lớp sơn phủ hấp thụ sóng radar để tăng cường khả năng chiến đấu cũng như tàng hình với radar đối phương.

 

 

Theo Báo Quân đội nhân dân

 
Việt Nam chế tạo thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ hai, 12 Tháng 12 2011 10:07

Các nhà khoa học thuộc Viện Thuốc phóng-Thuốc nổ, Tổng cục CNQP đã nghiên cứu chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp 9X195 trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Đây là sản phẩm dùng cho động cơ hành trình tên lửa phòng không, có thành phần và các tính năng tương đương với sản phẩm cùng loại của nước ngoài.

Nhiên liệu tên lửa hỗn hợp được sử dụng phổ biến trong nhiều loại tên lửa từ tầm ngắn đến các loại tên lửa cấp chiến dịch, chiến lược. Thành phần của nhiên liệu tên lửa hỗn hợp gồm chất cháy-kết dính, chất ô-xi hóa và các phụ gia năng lượng cao như bột nhôm, các chất nổ mạnh, phụ gia tốc độ cháy, phụ gia công nghệ...

Công nghệ sản xuất thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp rất phức tạp và luôn được các quốc gia giữ bí mật. Vì vậy, việc nghiên cứu chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp 9X195 có ý nghĩa quan trọng, khẳng định năng lực từng bước làm chủ công nghệ hiện đại của đội ngũ các nhà khoa học kỹ thuật quân sự nước ta, đồng thời mở ra khả năng tự sản xuất các tổ hợp tên lửa phòng không, cũng như sửa chữa một số loại tên lửa hiện có trong trang bị của quân đội ta.


Việc chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp sẽ là một bước đệm quan trọng để có thể tiến tới tự sản xuất và sửa chữa được một số loại tên lửa phòng không cho quân đội. Ảnh minh họa.

Quá trình nghiên cứu, các tác giả đã hoàn thành việc xây dựng bộ tài liệu quy trình công nghệ chế tạo thỏi nhiên liệu tên lửa 9X195; bộ tài liệu kỹ thuật nghiệm thu sản phẩm; dây chuyền chế thử thỏi nhiên liệu 9X195...

Sản phẩm của đề tài có thể sử dụng để hỗ trợ công tác nghiên cứu, đào tạo, chế tạo thử nghiệm nhiên liệu tên lửa hỗn hợp và ứng dụng để sản xuất thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp quy mô phòng thí nghiệm, nhằm phục vụ cho trang bị, thay thế một số thỏi nhiên liệu của động cơ hành trình tên lửa đang có trong trang bị, đồng thời tạo cơ sở cho việc thực hiện chế tạo loạt các thỏi nhiên liệu 9X195 thời gian tới


Theo Báo quân đội nhân dân.

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 của 20